TÁT NƯỚC ĐÊM TRĂNG
“Em múc trăng vàng đổ chốn
nao
Cùng ta chung tát một đầu gầu”?
Chiều muộn, khi trăng chênh chếch
mái đầu, một cô gái đang bên đường chuẩn bị thả gầu xuống nước, chờ tát nước
cùng nhân tình hay người bà con nào đó thì một thi sí nghiệp dư đi qua, cảm cảnh
lãng mạn đêm trăng được tát nước với người tình thì thú vị biết bao, anh ta thốt
lên hai câu thơ để xin cô gái cùng tát. Cô gái mặc dù e then nhưng cũng kịp trấn tỉnh để trả lời thi sĩ nghiệp
dư:
Trăng vàng em múc dưới
ao,
Có người chung tát đầu
gầu rồi anh.
Thì ra cô gái đang cùng
đi tát nươc vói người tình. Hai câu thơ tuy không hay nhưng nói lên được cô ta
đang hạnh phúc sắp cùng người tình tát nước đêm trang đầy lảng mạn nầy và khéo
léo từ chối.
Sau những giờ phút nhọc
nhằn với công việc, tối về, những cặp tình nhân có cơ hội tâm sự với người yêu
thì thật không gì bằng. Đôi trai gái vưa tát nước vừa cùng trò chuyên rồi vô
tình đã múc đổ đi ánh trăng vàng lấp lánh dưới ao làm trăng tung tóe.
Ở quê tôi, khi vụ chiêm
xuân lúa từ con gái, bắt đầu có đồng đồng là lúc lúa rất cần nước, tranh thủ buổi
tối không làm gì, từng cặp, từng cặp xách gầu ra đồng tát nước tưới thêm cho
lúa. Ruộng thường cao hơn ao, không thể cơi cho nước vào được mà phải tát.
Một con ao dài chừng 500 mét rộng khoảng 2,5 mét, sâu độ 0,8 mét, nước
luôn luôn đầy. Trên bờ là con đường đi rộng rãi thoáng mát, dọc theo con đường,
có một vài cây dương liễu hay một vài cây mưng rũ bóng. Đêm về không khí mát mẻ,
sót lại những cơn gió lào mơn man nhẹ hôn lên đôi má như thì thầm nhắc lại chuyện hai người. Trong đêm
thanh, tiếng nước đổ vào mương nghe lao xao lạc xoạc. Cũng có thể là hai cha
con, hai mẹ con, hai anh em… nhưng chuyện trò trong đêm rất rộn rã cả một đoạn
đường.
Làng tôi, nước thường thấp hơn ruộng
nên người ta hay tát gầu giai, với lại tát gầu giai phải có hai người, một người
không tát được, trong lúc đó gầu sòng chỉ tát một người hay xe đạp nước thì một
hay hai ngưới cũng đuọc. Gầu giai, một “trộ” (chỗ) tát có thể tát hai gầu (hai
đôi gầu, bốn người cùng tát). Có câu ca dao :
“ Ruộng sâu tát một
gầu giai,
Ruộng
cạn thì tát đến hai gầu sòng”.
Ý nói ruộng sâu, gầu sòng đưa nước không lên cao được,
chỉ tát được ruộng cạn hoặc ruộng ngang nhau. Còn gầu giai tát ruộng nào cũng
được.
Gầu giai là loại gầu người ta đan bằng
tre, miệng tròn, lưỡi bằng tre mỏng, to
cỡ bốn phân, khoanh tròn ép phần tre đan vào trong để khỏi vướng cỏ rác, đất
bùn. Đít ngang độ 25 phân, gầu được kiềng bằng một khung tre, nức chặt vào
nhau, dây gầu cũng bằng tre non chẻ ra lấy phần ngoài, “chún” (xoắn ) lại, một
đầu ccoj vào tay nắm, cũng làm bằng tre rỗng lỗ, chừng 10 phân, dây luồn qua ống
tre đó để khi cầm tát khỏi đau, phồng
tay. Bốn dây, cột vào đít gầu hai sợi, vào trước lưỡi hai sợi, dài ngắn tùy
theo chỗ tát cao hay thấp, đối với ruộng, đứng gần hay xa chỗ tát, thường dài
khoảng 2,5 mét, dây đít là dây đổ, dài hơn dây miệng 10 phân dùng để múc. Hai
người tát đứng hai bên chỗ tát, xây mặt vào nhau, đứng dang chân ra sau, người
tát, đit hơi nghiêng về phía đổ nước, chân trước làm trụ. Người đứng bên phải
thì chân phải phía trước làm trụ, người đứng bên trái thì chân trái đứng trước
làm trụ. Cách tát thì hơi khó diễn tả,
phải tập mới biết, chứ bình thường chưa bao giờ tát thì tát không được,
có khi bị té xuống trộ tát
Xe đạp nước thì sự vận hành, sử dụng lại khỏe
khoắn hơn không bị dơ, hoàn toàn làm bằng gỗ. Người ta lấy ba tấm ván dài khoảng
ba mét, đóng thành một cái máng, hai tấm hông rộng chứng 40 phân mỏng 1phân cho
nhẹ, tấm đáy rộng 20 dày độ 2,5 phân, khoảng 40 phân đóng một để giữ cho hai
hông thẳng, cứng. Khoảng 30 lá quạt, mỗi
lá rộng 15 phân, dài 22 phân, mặt trước phảng, mặt sau rôm lên , quanh mí mỏng 0,5
phân, giữa dày 2,5 phân, co một trục ở chính giữa dài 20 phân nối từ lá này đến
lá khác tạo thành vòng dây xích. Hai trục , một
gác phía trên, một trục nphía dưới nước, trục trên dài để gắn thêm hai bộ
chân đạp. trục tròn đường kính 10 phân, trục dưới dài khoảng 30 phân, hai đầu
nhỏ lại, nối với hai đoạn sắt bằng ngón tay đóng kỷ vào trong trục gỗ để khi vận hành chậm mòn hơn gỗ. Ở giữa truc,
người ta đóng 6 thanh gỗ vào thật chắc , 6 thanh gỗ nầy dài chừng 15 phân, mỏng
2 phân rộng 4 phân cách nhau thật đều giống như líp xe để khi vận hành nó chống
vào giữa chỗ nối hai lá Hai đầu trục này tựa lên hai thanh gỗ khác có đục lỗ
tròn lọt đoạn sắt để giữ cho khỏi văng
ra. Hai thanh gỗ nầy được đóng xuống đất ngang mặt nước ngay đầu dưới máng. Trục
trên dài độ 1,2 mét. Chính giữa cũng giống trục dưới, hai bên, đóng thêm mỗi
bên 6 thanh gỗ khăc lớn hơn chắc hơn để đạp. Trục trên nầy giống đĩa xe đạp,
các lá là sợi dây xích, xích nầy chay trong máng, trục cũng đưa vào lỗ tựa hai
cây gỗ nhưng cao và chắc vì máng gác xuôi từ dưới nước, đưa nước lên cao hơn do
đó trục phải cao. Phía trên đầu máng này ngưới ta gác chéo 4 cây gỗ khác buộc
chặt thành hai khung, trên đó kê một thanh gỗ đóng một tấm ván nhỏ để ngồi ,
trên chút nữa, cột một cây ngang để năm tay.
Nói thì dài dòng, rườm rà
nhưng vận hành thì đễ dàng. Tất cả đã buẩn bị đâu vào đó, nghĩa là đã đem dụng cụ đến chỗ tát nước đạt đâu vào đấy,
tát một người thì ngồi một bên, đạp có nặng hơn, tát hai người thì cả hai ngồi
hai bên, hai chân đặt lên chỗ đạp, đạp lui, khi trục trên xoay xích chạy làm trục
dưới chạy, các lá mang nước đẩy dưới lên, khi xích cuộn khỏi máng thì nước đổ
ra phía trên ruộng hoặc mương dẫn. Chỉ có thế thôi. Tát nước bằng xe đạp nước
thị vui hơn vì ngồi gần sát nhau, nói chuyên nhỏ to đều nghe được. thậm chí
chân vẫn đạp nhưng tay…
Tôi thì tất cả công việc
nhà nông ngày xưa ở thôn quê đều đẳm hết rồi nên thứ gì cũng biết cả, từ chăn
trâu, bò, giữ vịt, cày. bừa, cuốc ruộng, bàn đất, đánh, đắp vồng khoai, gặt lúa,
gánh lúa, cấy lúa cho đến tát nước bằng xe, tát gầu sòng, gầu giai, tát gầu
đôi, tát đuổi, tát đua đều sành sỏi nên khi nhớ lại, viết bài nầy mà cảm thấy
niềm vui tát nước ngày đó như còn sót lại làm tâm trạng vui vui nhớ nhớ một thời
chân bùn tay lấm vừa đi học, vừa về nhà phụ giúp cha mẹ