Bánh giầy đã có từ lâu, từ đời vua
Hùng Vương, trong lịch sử cũng có nhắc đến sự tích này. Chuyện kể: Vua Hùng sau
khi đã ổn định được đất nước, Ngài bảo với các con rằng, nước nhà thanh bình rồi
các con hãy làm mỗi người một món gì đó tùy ý để đem dâng cúng liệt tổ liệt
tông. Những người con nghe cha bảo như vậy thì ra sức tìm kiếm khắp nơi, đưa về
bao nhiêu sơn hào hải vị để làm một món ăn thật ngon lành, đặc sắc dâng lên
mong được vua cha để ý đến. Bao nhiêu món ngon vật lạ, bao nhiêu đầu bếp tài giỏi
được huy động để làm.
Nhiều món ăn rất ngon,
rất đẹp mắt, rất lạ chưa từng thấy bao giờ. Vua cha xem qua một vòng thấy món
nào cũng ngon cả, đẹp cả tuy nhiên nó vẫn tầm thường vì ngày nào vua cũng đều
thưởng thức các món như vậy, nhà vua đi lại mâm cuối cùng, chỗ không có người
nào xem cả, duy nhất có hai vợ chồng chủ nhân mâm cổ mà thôi. Nhà vua lúc đầu
cũng ngạc nhiên vì mâm cỗ sơ sài, duy nhất và dân giả chỉ hai thứ bánh. Nhà vua
ăn thử thấy rất ngon (bởi thường ngày ăn đồ cao lương mỹ vị quá nhàm chán), người
con giải thích ý nghĩa của món ăn: Đó là món bánh chưng và bánh giầy, tất cả đều
làm bằng thổ sản tự mình sản xuất ra, đó là gạo nếp và ngũ cốc (năm loại đậu)
không có gì khác. Bánh làm bằng gạo nếp còn nhân làm lằng đậu, bánh giầy hình tròn
tượng trưng cho trời (trời tròn), bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất (đất
vuông), chung quang được gói bằng lá chuối hay lá dong, tượng trưng cho sự an
ninh bền vững của nước nhà. Nhà vua rất hài lòng về món bánh chưng, bánh giầy
này
Tôi chỉ nói về món bánh giầy nầy.
Làng tôi là làng An Mỹ, xã Gio Mỹ, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, dân làng sống
hiền hòa bên bờ sông Bồ Điền ( thường gọi là sông Kênh Hòm hay sông Bến Ngự),
phía sau làng là những đồi cát tráng chạy dài từ đầu làng đến cuối làng, dân
luôn bảo tồn những di sản văn hóa dân tộc mà họ có được như trò chơi Cướp Cù,
những lễ nghi truyền thống như cúng kỵ, ma chay cưới hỏi v.v…Về ẩm thực thì
cũng có những loại đặc sản như lúa “De Con”, nếp “Kỳ lân” và đặc biệt là món
bánh giầy mà thường niên vào các lễ cúng đình, lễ xuống cấy, lễ cầu bông, cầu
chẹn, giỗ chạp họ đều làm món bánh này. Bánh giầy không có gì gọi là ngon cả,
tùy theo khẩu vi và sở thích cũng có thể có người không thích, bánh để lâu trên
24 tiếng thì bị cứng lại, muốn ăn phải nướng trên bếp than. Ở dây tôi chỉ nói đế
món ăn truyền thống của dân tộc được lưu truyền mà làng tôi còn giữ đươc, còn ở
đâu có nữa thì tôi không rõ.
Bánh giầy làm bằng gạo nếp, nếp được
chọn kỹ không lộn gạo tẻ vào khi giả bánh bị nổi hột, nếp thật dẻo, nhân làm bằng
đậu đen, đậu đỏ hay đậu xanh đải vỏ, có người làm nhân với mè, đường hay đậu phụng
đường. Muốn làm 100 cái bánh thì phải có 15loon gạo nếp, vò sạch cám, ngâm nước chừng 7 đến 10 tiếng đồng hồ trước
khi hông. Dụng cụ để giả, ngày xưa người ta dùng mo cau khô; mo cau phải to, dài
chừng 70 cm, rộng chính giữa chừng 40 cm, phơi khô, dùng phía lưng, để “làm cối”,
chày thì dùng chày tay, một đầu cũng bịt bằng mo cau, trước khi giả bánh phải
xoa một lớp chống dính lên cối và chày bằng ngòi đỏ trứng gà (ngày xưa) hay dầu
ăn (bây giờ), hiện giờ người ta dùng bao tải đựng gạo bằng sợi ni long rửa sạch,
phơi khô để dùng làm cối và bịt chày. Nhân bánh, đậu người ta cũng ngâm qua để đải võ trước khi nấu chính, thêm một chút đường hoặc bột ngọt với
bột tiêu, để nguội, vo tròn bằng trái nhản. Gạo nếp được hông khoảng 30 đến 45
phút thành xôi, lá chuối lành được lau sạch xé thành miếng nhỏ bằng ba ngón tay
cái, lấy kéo cát vuông. Tất cả đã chuẩn bị
xong xuôi. Trước khi giả bánh phải có hai người giữ mo, một người trở
bánh và một người giả. Mo cối được đặt trên chiếc chiếu, mọi người vào vai khi
xôi được đổ ra trên cối, người trở bánh có nhiệm vụ dàn trải lật qua lật về và
ra dấu cho người giả nên giả chỗ nào, thường thì họ giả về phía họ đứng để khỏi
giả vào tay người trở, còn hai người giữ cối phải nắm chặt và đè xướng đừng cho
mo cối kéo lên. Khi thấy cối bánh đã nhuyển thì ngưng giả, bây giờ bánh còn
nóng hổi thành một khối đặc, và người trở bánh có nhiệm vụ ngắt khối này ra từng
viên nhỏ bằng quả trứng vịt. Bây giờ người ta lấy một viên nhân nắn bỏ vào giữa,
bít nhân lại bỏ vào giữa lòng bàn tay vo cho tròn, láng bóng, xong đặt lên miếng
lá chuối đã có sẵn, lấy hai ngón tay đè xuống một chút là có cái bánh giầy
trong rất đẹp mắt và thèm cắn ngay.
Làm bánh giầy thì đơn
giản thôi nhưng khi diễn tả ra từng giai đoạn thì dài dòng như là mất công lắm
nhưng thật ra nó còn nhanh hơn bánh chưng
Món ăn truyền thống của dân tộc đã
trải qua hàng ngàn năm, tưởng nó sẽ bị quên lảng bởi nhiều món ăn đặc biệt khác
nhưng nó vẫn giữ được đến ngày hôm nay cũng là điều đáng được ghi nhận và chúng
ta cũng nên quãng bá cho mọi người biết và thưởng thức hương vị bánh giầy (béng
chì). Ai muốn, xin mời về làng tôi.
Hoàng Kim Liên
1 nhận xét:
Thân chúc chủ nhà cùng thân quyến năm mới 2016 an khang hạnh phúc!
http://2.bp.blogspot.com/-7oEaiKFf3C4/VoKSz0TKHiI/AAAAAAAAKFI/Md9_tgRiR-A/s400/Phu%2B%25C4%2590oan-New%2Byear-1.gif
Đăng nhận xét