CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

TÁT NƯỚC ĐÊM TRĂNG



TÁT NƯỚC ĐÊM TRĂNG

                     “Em múc trăng vàng đổ chốn nao
                      Cùng ta chung tát một đầu gầu”?           
          Chiều muộn, khi trăng chênh chếch mái đầu, một cô gái đang bên đường chuẩn bị thả gầu xuống nước, chờ tát nước cùng nhân tình hay người bà con nào đó thì một thi sí nghiệp dư đi qua, cảm cảnh lãng mạn đêm trăng được tát nước với người tình thì thú vị biết bao, anh ta thốt lên hai câu thơ để xin cô gái cùng tát. Cô gái mặc dù e then nhưng  cũng kịp trấn tỉnh để trả lời thi sĩ nghiệp dư:
                Trăng vàng em múc dưới ao,
           Có người chung  tát  đầu gầu rồi anh.
        Thì ra cô gái đang cùng đi tát nươc vói người tình. Hai câu thơ tuy không hay nhưng nói lên được cô ta đang hạnh phúc sắp cùng người tình tát nước đêm trang đầy lảng mạn nầy và khéo léo từ chối.
        Sau những giờ phút nhọc nhằn với công việc, tối về, những cặp tình nhân có cơ hội tâm sự với người yêu thì thật không gì bằng. Đôi trai gái vưa tát nước vừa cùng trò chuyên rồi vô tình đã múc đổ đi ánh trăng vàng lấp lánh dưới ao làm trăng tung tóe.
        Ở quê tôi, khi vụ chiêm xuân lúa từ con gái, bắt đầu có đồng đồng là lúc lúa rất cần nước, tranh thủ buổi tối không làm gì, từng cặp, từng cặp xách gầu ra đồng tát nước tưới thêm cho lúa. Ruộng thường cao hơn ao, không thể cơi cho nước vào được mà phải tát.
Một con ao dài chừng 500 mét rộng khoảng 2,5 mét, sâu độ 0,8 mét, nước luôn luôn đầy. Trên bờ là con đường đi rộng rãi thoáng mát, dọc theo con đường, có một vài cây dương liễu hay một vài cây mưng rũ bóng. Đêm về không khí mát mẻ, sót lại những cơn gió lào mơn man nhẹ hôn lên đôi má như  thì thầm nhắc lại chuyện hai người. Trong đêm thanh, tiếng nước đổ vào mương nghe lao xao lạc xoạc. Cũng có thể là hai cha con, hai mẹ con, hai anh em… nhưng chuyện trò trong đêm rất rộn rã cả một đoạn đường.
        Làng tôi, nước thường thấp hơn ruộng nên người ta hay tát gầu giai, với lại tát gầu giai phải có hai người, một người không tát được, trong lúc đó gầu sòng chỉ tát một người hay xe đạp nước thì một hay hai ngưới cũng đuọc. Gầu giai, một “trộ” (chỗ) tát có thể tát hai gầu (hai đôi gầu, bốn người cùng tát). Có câu ca dao :

 
   “ Ruộng sâu tát một gầu giai,
            Ruộng cạn thì tát đến hai gầu sòng”.

        Ý nói  ruộng sâu, gầu sòng đưa nước không lên cao được, chỉ tát được ruộng cạn hoặc ruộng ngang nhau. Còn gầu giai tát ruộng nào cũng được.
        Gầu giai là loại gầu người ta đan bằng tre, miệng  tròn, lưỡi bằng tre mỏng, to cỡ bốn phân, khoanh tròn ép phần tre đan vào trong để khỏi vướng cỏ rác, đất bùn. Đít ngang độ 25 phân, gầu được kiềng bằng một khung tre, nức chặt vào nhau, dây gầu cũng bằng tre non chẻ ra lấy phần ngoài, “chún” (xoắn ) lại, một đầu ccoj vào tay nắm, cũng làm bằng tre rỗng lỗ, chừng 10 phân, dây luồn qua ống tre đó để khi cầm tát khỏi  đau, phồng tay. Bốn dây, cột vào đít gầu hai sợi, vào trước lưỡi hai sợi, dài ngắn tùy theo chỗ tát cao hay thấp, đối với ruộng, đứng gần hay xa chỗ tát, thường dài khoảng 2,5 mét, dây đít là dây đổ, dài hơn dây miệng 10 phân dùng để múc. Hai người tát đứng hai bên chỗ tát, xây mặt vào nhau, đứng dang chân ra sau, người tát, đit hơi nghiêng về phía đổ nước, chân trước làm trụ. Người đứng bên phải thì chân phải phía trước làm trụ, người đứng bên trái thì chân trái đứng trước làm trụ. Cách tát thì hơi khó diễn tả,  phải tập mới biết, chứ bình thường chưa bao giờ tát thì tát không được, có khi bị té xuống trộ tát
        Gầu sòng, thì rườm rà hơn, người ta cũng đan bằng tre, như cái máng, dài chừng một mét đến hai mét, cái lớn, trước cũng có lưỡi tròn, phần thân trước lưỡi chừng 2/3 lưỡi, phía đít được đan bít để chắn nước ra sau. Một cái cán dài hơn thân gầu chừng 80 phân để vừa điều khiển múc nước vừa điều khiển đổ nước. Để tát nước người ta dùng ba cây tre (cây gì thẳng cứng là được), cột chụm lại phía trên cho chắc, đừng tuột, dưới  chảng ra ba chỗ. Một sợi dây có móc, móc từ chỗ ba cột chụm lại đó,  đầu kia móc vào cán đã có cái vòng cột sẳn. Người tát đứng đàng sau cầm cán chúc xuống múc xuống tạt nước ra hía trước. Rất dễ. Gầu sòng có loại nhỏ hơn, chừng một mét, lưỡi hình bán nguyệt, cán phía sau dài  khoảng 30 phân, khỏi làm bộ ba cây chống, người tát, thân làm chống, một tay cầm giữa cán, một tay cầm phía sau, hai tay cùng điều khiên múc và tạt nước ra trước.
        Xe đạp nước thì sự vận hành, sử dụng lại khỏe khoắn hơn không bị dơ, hoàn toàn làm bằng gỗ. Người ta lấy ba tấm ván dài khoảng ba mét, đóng thành một cái máng, hai tấm hông rộng chứng 40 phân mỏng 1phân cho nhẹ, tấm đáy rộng 20 dày độ 2,5 phân, khoảng 40 phân đóng một để giữ cho hai hông thẳng,  cứng. Khoảng 30 lá quạt, mỗi lá rộng 15 phân, dài 22 phân,  mặt trước  phảng, mặt sau rôm lên , quanh mí mỏng 0,5 phân, giữa dày 2,5 phân, co một trục ở chính giữa dài 20 phân nối từ lá này đến lá khác tạo thành vòng dây xích. Hai trục , một  gác phía trên, một trục nphía dưới nước, trục trên dài để gắn thêm hai bộ chân đạp. trục tròn đường kính 10 phân, trục dưới dài khoảng 30 phân, hai đầu nhỏ lại, nối với hai đoạn sắt bằng ngón tay đóng kỷ vào trong trục gỗ  để khi vận hành chậm mòn hơn gỗ. Ở giữa truc, người ta đóng 6 thanh gỗ vào thật chắc , 6 thanh gỗ nầy dài chừng 15 phân, mỏng 2 phân rộng 4 phân cách nhau thật đều giống như líp xe để khi vận hành nó chống vào giữa chỗ nối hai lá Hai đầu trục này tựa lên hai thanh gỗ khác có đục lỗ tròn lọt đoạn sắt để giữ  cho khỏi văng ra. Hai thanh gỗ nầy được đóng xuống đất ngang mặt nước ngay đầu dưới máng. Trục trên dài độ 1,2 mét. Chính giữa cũng giống trục dưới, hai bên, đóng thêm mỗi bên 6 thanh gỗ khăc lớn hơn chắc hơn để đạp. Trục trên nầy giống đĩa xe đạp, các lá là sợi dây xích, xích nầy chay trong máng, trục cũng đưa vào lỗ tựa hai cây gỗ nhưng cao và chắc vì máng gác xuôi từ dưới nước, đưa nước lên cao hơn do đó trục phải cao. Phía trên đầu máng này ngưới ta gác chéo 4 cây gỗ khác buộc chặt thành hai khung, trên đó kê một thanh gỗ đóng một tấm ván nhỏ để ngồi , trên chút nữa, cột một cây ngang để năm tay.
       Nói thì dài dòng, rườm rà nhưng vận hành thì đễ dàng. Tất cả đã buẩn bị đâu vào đó, nghĩa là đã  đem dụng cụ đến chỗ tát nước đạt đâu vào đấy, tát một người thì ngồi một bên, đạp có nặng hơn, tát hai người thì cả hai ngồi hai bên, hai chân đặt lên chỗ đạp, đạp lui, khi trục trên xoay xích chạy làm trục dưới chạy, các lá mang nước đẩy dưới lên, khi xích cuộn khỏi máng thì nước đổ ra phía trên ruộng hoặc mương dẫn. Chỉ có thế thôi. Tát nước bằng xe đạp nước thị vui hơn vì ngồi gần sát nhau, nói chuyên nhỏ to đều nghe được. thậm chí chân vẫn đạp nhưng tay…
       Tôi thì tất cả công việc nhà nông ngày xưa ở thôn quê đều đẳm hết rồi nên thứ gì cũng biết cả, từ chăn trâu, bò, giữ vịt, cày. bừa, cuốc ruộng, bàn đất, đánh, đắp vồng khoai, gặt lúa, gánh lúa, cấy lúa cho đến tát nước bằng xe, tát gầu sòng, gầu giai, tát gầu đôi, tát đuổi, tát đua đều sành sỏi nên khi nhớ lại, viết bài nầy mà cảm thấy niềm vui tát nước ngày đó như còn sót lại làm tâm trạng vui vui nhớ nhớ một thời chân bùn tay lấm vừa đi học, vừa về nhà phụ giúp cha mẹ































TẶNG BÁC HOÀNG ĐẰNG - Điếu Ngao



LÃO GÀN
(Kính tặng Bác "Lão Gàn" - Điếu Ngao

Xưng gàn sao chẳng thấy chi gàn
Bè bạn khắp nơi luôn hỏi han
Bục giảng bao năm còn khỏe khỏe
Ra ngoài một chút đã khàn khàn
Hon da hư hỏng đi không được
Xe đạp ngồi lên lại thở than
Coi bộ lai hy đà rụ cúi
Một trăm muốn đến phải thư nhàn.
                                  Hoàng kim Liên

Bài họa của Hoàng Đằng

ĐÚNG LÀ GÀN!

Theo ban, Lão đây chẳng có gàn.
Cảm ơn thỉnh thoảng hỏi cùng han.
Năm canh khó ngủ, hồn mơ mộng.
Sáu khắc biếng ăn, miệng đắng khàn.
Viết chuyện tầm phào, nhiều bạn thích.
Ra đường quờ quạng, lắm bà than.
Rủ rê hàng xóm xem phim truyện
Giải trí cho khuây lúc ở nhàn ...
                                                 Lão Gàn

Dễ gì gàn nặng hởi thầy Đằng
Đừng có buồn tình nói nhí nhăng
Bè bạn mến thương ông chẳng hết
Học trò ái mộ bác bao năm.
                                      Hoàng Kim Liên 



Thứ Hai, 24 tháng 3, 2014

Ký Ức

          

        Trong cuộc sống đời thường, bao nhiêu sự việc diễn ra trong quá khứ - nhất là thời thơ ấu – đều được ghi lại trong bộ nhớ của não một cách rỏ ràng. Nhưng  trong lúc bận rộn cho công việc mưu sinh, tất cả đều bị che lấp, nhường chỗ cho những tính toan để đối phó với những điều kiện, hoàn cảnh cay nghiệt vấp phải. Khi về già những tính toan đó không còn mà còn phải vui vẻ sống những ngày còn lại trong quỷ thời gian của mình thì những ký ức ngày xưa lại hiện về làm xao xuyến trong lòng, đôi lúc lại cười thầm trong bụng vì những cảnh tượng quá cách biệt giữa xưa và nay rồi thì mũi lòng, cảm động những gì mình trải qua trong quá khứ.
          Xin nhắc lại một vài chuyện mà tin chắc rằng ai đã từng sinh ra, lớn lên ở nông thôn thì thế nào cũng gặp phải.
      1.    Chuyện thắp thuốc cho ba hoặc ông bà: Ngày xưa, ít ai có được một hộp quẹt bỏ túi để thắp (đốt) thuốc như bây giờ. Người sang lắm mới có cái “máy đèn” mua ở chợ tỉnh hay của người thân quen tặng. Ngày xưa gọi là máy đèn. Một hộp chữ nhật nhỏ, hai lớp làm bằng nhôm, dày khỏang 8 ly, rộng 3 phân, dài chừng 7 phân, kể cả nắp đậy. Bên trong là ruột đựng bông gòn có tẩm dầu lửa, có một tim bằng sợi vải để dễ bắt lửa nhô ra ngoài, một trục, bên trên gắn một bánh xe bằng thép, nhám thông với một ống nhỏ, bên trong ống bỏ viên đá lửa nhỏ bằng que tăm, ngắn chừng 5 ly, được đẩy bằng một lò xo và con ốc vào cho viên đá luôn tiếp xúc với bánh xe, tay cầm máy đèn, ngón cái bật bánh xe toé ra lửa, lửa tiếp xúc với tim sẽ thành ngọn lửa nhỏ để mồi thuốc. Thấy cũng oai đấy chứ.
      Ba không có máy đèn.
      Giấy vấn thuốc không được cắt sẵn 4 phân x 7 phân mà cả tờ giấy quyến trắng to đùng, 1 mét x 1,2 mét, mua về xếp lại, có người xếp thành tám xé vấn dần, có người thì gấp lại nhỏ đàng hoàng, lấy dao rọc ra từ lớn đến nhỏ, cất bỏ vào bao một ít dùng dần. Còn thuốc thì mùa xuân bắt đầu trồng quanh vườn, đến mùa nắng, bẻ lá vào phơi khô, xếp cuốn ,bó bằng mo cau cột giữa bếp, khi hết thuốc xắt thì lấy xuống, xé bỏ xương gân, xếp miếng to không rách ra ngoài, cuộn tròn lăn thật mạnh thành một cuộn dài chừng 30 phân, lớn gần bằng ngón chân cái. Lấy một thanh tre khô bằng hai ngón tay, dài khoảng 45 phân, bào nhẳn. Cách một đầu chừng 10 phân, đục một cái lỗ tròn vừa đủ cuộn thuốc lọt qua, gọi là bàn cắt thuốc. Lấy cây rụa mài thật sắc bén. Tất cả sẵn sàng. Bàn  cắt thuốc đầu trên chống vào nách người cắt, đầu dưới chống vào giữa nền nhà. Tay trái cầm cuộn thuốc đun dần dần vào, tay phải tựa theo bàn cắt nhấn mạnh xuống – đưa lên nhấn xuống liên hồi – thuốc sẽ đứt từng nhát mỏng. Thuốc xắt ra hứng trong miếng lá chuối sạch. Xắt xong, xé nhỏ thuốc bỏ vào bao hút dần. Bao đựng thuộc làm bằng bẹ chuối khô, may đẹp xấu, mỹ thuật hay không tuỳ theo. Bao có ba ngăn: ngăn đựng thuốc, ngăn đựng giấy, ngăn đựng máy đèn.
        Mỗi lần hút thuốc, khi vấn (cuộn thuốc vào trong giấy thành điếu), ba đưa điếu thuốc cho tôi, biểu đi thắp. Khi thắp (đốt) thuốc thì phải hút thuốc mới cháy thành ra quen dần lớn lên nghiện thuốc. Trẻ con thôn quê hay hút thuốc là vậy.
2.   Cha mẹ đi ra đồng cày, cấy, bón phân hay làm cỏ nên phải tắt hết lửa củi trước khi đi làm bỡi vì đa số nhà thấp, lợp bằng  tranh dễ cháy, đun bếp ba mùa xuân, hạ, thu đều bằng rơm; củi hiếm để dành cho mùa đông rét mướt, có than để sưởi, bỏ vào lồng ấp hơ ấm hai tay. Khi cha mẹ về nấu ăn sai con đi hàng xóm, có người ở nhà  xin lả (lửa) về nấu cơm, chạy ra sau cây rơm rút một nắm xoáy tròn bằng tổ chim rồi bóp dẹp lại, một đầu để cầm đầu kia banh ra bỏ cục than đang cháy vào, chạy nhanh về nhà cho mẹ. Đôi khi lửa bén nhanh quá chạy không kịp bị lửa cháy phỏng tay.
        Ông già bà lão, mùa lạnh ở quê Quảng Trị mình  không có bếp lửa là không ổn. Họ làm một dụng cụ gọi là lồng ấp, vót tre đan cái lồng, trên có miệng, ở giữa eo vào để bỏ cái tréc (cái nồi cạn làm bằng đất nung) đựng tro và than, cái lồng để giữ cho áo quần khỏi dính vào lửa khi ôm lồng ấp.
        Mùa lạnh ra đồng, người ta lấy rơm bện thành “con cúi”, hay “bông mai”, bỏ cục than đang cháy đỏ vào cho bắt lửa, rồi nó âm ỉ cháy ngún không bốc thành lửa ngọn, giữ lửa suốt ngày đêm tuỳ theo “con cúi” dài hay ngắn.
3.  Về mùa thu hoạch lúa, nông dân rất vất vả, ban ngày đi gặt lúa, đêm về phải đạp lúa. Thường người ta gặt lúa để ngay ngắn từng đống rồi lấy lạt (dây cột, cứng) bó thành từng bó dùng đòn xóc (đòn gánh, nhọn hai đầu) đâm vào hai bó lúa đưa lên vai gánh về chất thành đống cao nghệu, để vài ba ngày cho lúa chính hết mới đem đạp cho lúa hột rụng ra khỏi rơm. Người ít lúa, không có trâu bò, họ đạp chân – chân trần, không mang giày bảo hộ. Làm gì có. Cột một cái sào tre ngang trên bụng vào hai cột nhà để tì vịnh tay vào, mở bó lủa ra chia làm hai hay ba rồi đứng lên chà xát dẫm bàn chân lên ngọn lúa cho lủa lột rụng hết. Thật là gian khổ.
        Đạp lúa trâu, bò thì khoẻ hơn, nhanh hơn đạp bằng sức người. Khoảng 5 giờ chiều, hai ba người đàn ông, quét “cươi” (sân) sạch sẽ, ôm lúa bó mở ra trải lên sân, ngay ngắn thứ lớp đàng hoàng, dày mỏng còn tuỳ ít hay nhiều lúa bó, thường dày khỏang 40 đến 50 phân, tròn, đường kín 6 đến 10 mét. Chuẩn bị bổ cào 6 răng, mõ xảy (xảy một, xảy đôi – dụng cụ rủ rơm, phơi rơm thay cho bằng tay), giỏ đựng phân trâu. Xong xuôi, sáu giờ, sau khi trâu bò đã ăn no, người cũng ăn xong, cho trâu bò lên giả lúa đi quanh, người điều khiển đàn trâu bò từ ba bốn con, con đi đầu phải có dây dò mũi. Đi quanh đạp chừng 10 phút nghe người điều khiển hô: Trâu ẻ… trâu ẻ (ỉa) là người phụ ở ngoài bưng giỏ có lót rơm chạy vào hứng sau đít trâu kẻo trâu ỉa ra lúa, lúc này cả bầy, hết con nầy đến con khác,  liên tục ỉa làm người phụ ngoài mệt đừ.
        Độ một tiếng rưỡi đồng hồ, phía trên mặt đã rụng, người ta lấy bớt chung quanh, rủ thật lộn búi rải đều lên trên một lớp cho đi tiếp, nửa giờ sau, lớp này không còn dính lúa hột nũa, lấy cào và xảy đưa rơm ra ngoài rủ sạch, bỏ thành đống ngày mai phơi. Tiếp tục một hai lần lấy bớt như vậy khi giả lúa thấp xuống, cho trâu bò nghỉ, ăn cỏ lót dạ, mọi ngươi xúm nhau rủ búi tất cả số còn lại, sửa sang lại, cũng ăn lót dạ chén cháo gà, chén chè hay đĩa xôi rồi đưa trâu, bò vào đạp tiếp, khi xem lúa không còn dính vào rơm nữa, cho trâu ra nghỉ, người rủ sạch hết số còn lại nầy, đưa rơm ra khỏi sân chất thành đống thì cũng đã 12 giờ đêm. Cứ vậy, ba bốn hôm lại đạp lúa trâu một bữa cho đến hết mùa.
       Với đàn ông thanh niên là vậy, còn với phụ nữ và trẻ 10 trở lên 18 thì có công việc thường lệ hơn cho mỗi buổi tối. Như có bảng phân công bất thành văn mà mỗi người phải ghi nhớ để thực hiện. Sau khi ăn cơm tối xong, mẹ tranh thủ rửa chén bát, dọn dẹp, các con lấy lúa đổ vào cối xay, mẹ làm xong việc dọn dẹp, dọn nẻn (cái nia), sàng ra, lấy lúa đã xay sàng vào trong nia, bỏ trấu (võ lúa) ra ngoài, lấy gạo lứt (gạo chưa bóc cám) bỏ vào cối đá hay cối gỗ giả cho phần cám (võ lụa bám mỏng ngoài hạt gạo) bung ra hết, phải xem cho kỹ, lúc nầy cám và gạo đã giả trắng trộn lẫn nhau, mẹ lấy nia trải ra, lấy giần,  giần để loại cám xuống dưới còn gạo lẫn trấu heng (trấu nhỏ) còn lại trên giần. Bây giờ lấy cái trẹt to (nia nhỏ) sảy cho trấu nhỏ bay hết còn lại gạo sạch hoàn toàn, đổ vào dụng cụ chứa gạo để mấu cơm ngày mai.
        Trừ cối giả gạo làm bằng đá hay gỗ, chày giả làm bằng gỗ còn lại thúng, mủng (thúng nhỏ), trẹt to, trẹt nhỏ sàng giần, cối xay đều đan đát bằng tre. Giả gạo, sàng giần gạo là cả một nghệ thuật, không hiểu, không quen chắc chắn sẽ không làm được.
     Có ba loại chày giả gạo:  Một là chày tay, một khúc gỗ dài chừng 1,4 mét, đường kính chừng tám phân đến một tấc, bào tròn, ở chính giữa đẽo chuốt nhỏ lại bằng cổ tay để dễ cầm, đứng giẩ. Hai là chày đạp, thường để một chỗ cố định. Cối được chôn thấp xuống, chày nặng hơn, giống chữ L, cán chày dài khoảng 2 mét, đầu chày nhỏ hơn , ngắn khoảng 4 tấc, đầu kia, cách đầu chừng 8 tấc, đục xuyên cán chày làm một trục ngang, trục ngang này tựa vào hai cột chôn vững xuống đất, cách nhau chừng 8 tấc. Chày nầy như là một đòn bẩy , người giả đứng phía sau đạp nhún để cho đầu kia cất lên rồi thả xuống, chày sẽ giả vào cối. Chày nầy có thể xử dụng hai người. Ba là chày vồ, chày có cán tre ở giữa như chữ T, chày giả được hai đầu, cán nhỏ dài chừng 7 tấc, nhỏ để dễ cầm, ngồi trên ghế để giả. Giả gạo một người, hai người còn dễ chứ ba, bốn người,  thì càng khó. Thứ tự theo vòng quay ngược kim đồng hồ, người này giả xuống cất chày lên tiếp người bên phải cứ như thế hết người thứ tư mới đến người đầu trở lại, rất nhanh không để người khác chờ, cũng không xuống trước sẽ gỏ chày trúng nhau. Khi đã quen, thuần thục thì giả đuổi nhau thi nhau nữa, ai mệt sẽ bỏ cuộc ngay. Đôi khi đánh trúng chày người khác làm chày họ giả vào tai cối làm bể hay sứt mẻ cối.
       Thấy cảnh giả gạo chày tư rất thú vị. Còn sàng, giần, cằn, sảy làm sạch gạo là cả một nghệ thuật, học hỏi, kinh nghiệm lâu ngày chứ không đơn giản chút nào. Chỉ những bà mẹ quê từng trải mới làm tốt thôi. Không tin cứ về quê giả gạo làm gạo sẽ biết liền. Trong khoảng 3 ký gạo trộn chừng 15 hạt lúa, chắc chắn mình sẽ tìm cả giờ chưa hết chứ một bà mẹ quê sành sỏi họ lấy sàng ra bỏ lên sàng ba phút sau tất cả các hạt lúa đểu nhóm lại ở chính giữa sàng chỉ lấy tay nhón một cái là xong ngay. Vậy đó
        Ai  đã từng có thời son trẻ sống ở vùng nông thôn nghèo mới biết và hiểu được cảnh cơ cực suốt một thời gian dài, vì chiến tranh, lạc hậu. Giờ tuổi trẻ, đầy đủ tất cả mọi tiện nghi, vật chất, khoa học kỹ thuật phát triển gấp cả trăm lần, khi ông cha nhắc  đến thời kỳ ấy với những từ ngữ địa phương nữa cắc chắn chúng sẽ ngơ ngác chẳng biết gi hay hình dung được như thế nào cả. Còn lớp già sống vào những thời đó thì nay cũng đã 60 tuổi trở lên, gặp nhau đâu đó. Bên tách cà phê tâm sự hay ly trà hàn huyên hay tranh nhau kể về quá khứ của mình, lòng vướng chút tự hào, chút hoài niệm, chút ưu tư mà lòng se lại…
                                                                 Hoàng Kim Liên