CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2015

NƠM CÁ, NHỦI TÉP







Quê tôi xưa nay chỉ có một nghề duy nhất đó là nghê nông. Khi rảnh rổi có thể đi đốn củi, chăn nuôi vịt. Chăn nuôi trâu bò cũng nhỏ hẹp chỉ để cày kéo hoặc lấy phân.
            Có một nghề - nghề phụ mỗi khi nông nhàn – đó là nghề nơm cá. Họ có ít hoặc thậm chí không có đất đai, ruộng vườn để canh tác sản xuất, họ lấy nghề bắt cá làm mưu sinh nuôi sống gia đình. Chài lưới thì chỉ đánh bắt về mùa nướcc lũ, còn nơm cá là sau khi gặt vụ chiêm xuân xong kéo dài cả nửa năm, cá đang đọng lại giữa bàu, hói, ao, hồ trước đây trồng lúa; hay rào (sông nhỏ). Ở đây tha hồ nom bắt vì không của riêng ai. Khi hết vụ mùa, nông dân có thể đi chặt củi, chăn nuôi vịt. Những nghề phụ nhỏ lẻ làm thêm như nuôi trâu bò, nuôi heo với mục đích kéo cày, lấy phân bón lúa và hoa màu.
            Nơm cá nước ngot như cá đô, cá tràu (cá lóc), cá hẻn (cá trê), cá rô, chúng sống dai, bắt lên cạn vài tiếng đồng hồ vẫn không chết, người ta rộng lại cho thật nhiều rồi đem đi chợ bán. Còn cá trắng như cá gáy (cá chép), cá diếc, cá thát lát, cá mè thì ăn hoặc bán ngay trong ngày. Những người không phải nghề nghiệp, nơm cá về chủ yếu rộng lai  để ăn dần khỏi mua.
Buông câu, thả lưới, vãi chài, cất rớ, đơm lờ, đơm dẹp, đắp trễ, nơm, soi đối với đa số dân làm nông chỉ là nghề phụ có tính cách thời vụ cốt để cải thiện bữa ăn tăng thu nhập cho gia đình.
         Vùng chúng tôi, người dân hoàn toàn làm nghề nông cho nên trong nhà, ai ít nhất là một cái nơm còn nhà đông ngươi thì hai ba cái. Bởi nơm cũng dễ làm, ai người lớn cũng đều có thể làm đươc cả. Hơn thua nhau ở chỗ đẹp và xấu mà thôi. Người khéo tay hay chuyên môn  làm để bán hay làm theo người khác đặt hàng. Có đủ cỡ nơm, có cái cao độ 80cm, đường kính rộng chừng 70cm vừa đủ cánh tay thò vào đến nách  dùng để nơm nước sâu và để băt cá to hơn; nhỏ nhất thì cao chừng 40cm, rộng 30cn để bắt cá nước cạn, cá nhỏ bằng vài ngón tay..
            Nơm làm bằng tre kết với mây rừng, chỉ cần mua mây về chẻ ra thành sợi vót mỏng lấy “kịch” bên ngoài. Tre thì dễ, ra sau ranh vườn chọn cây nào vừa làm, không già quá khi lên vành khó, dễ gãy; cây non thì yếu, dễ mục mau hư. Đốn vài cây thì tha hồ làm. Nếu nhà nào không có tre thì đi xin người có họ vẫn cho.
            Lấy khúc gốc khoảng trên 2 mét chẻ lấy một thanh rộng chừng 2, 5cm, ròng, không mắt để làm vành, chỗ khúc còn lại chẻ nhỏ ra vót bằng mút đũa xoắn làm đầu nơm còn lại cưa thành khúc như dự định cao thấp để làm. Tre làm nơm chẻ to chừng 1cm vót lại là vừa, vót một đầu to, có vạt nhọn để khi chơm dễ lún xuống đất, cá không chui ra được. Đầu kia vót nhỏ dần lại bằng 1/3 đầu dưới. Một cái nơm làm độ hai ngày là hoàn tất. Làm xong là đem đi chơm được ngay. Có người kỹ càng hơn, mỗi lần nơm về rửa sạch gác lên gian khói để bảo quản dùng được lâu.
            Nơm cá cũng là một thú vui đặc biệt. Khi nước sông cạn hay bàu hói đã gặt xong là hú nhau cả làng, cả xóm hè nhau vác nơm đi nơm. Nơm đầu mùa nhiều cá, dễ biết cá trong nơm nên ai cũng không bỏ lỡ dịp nầy.
            Trời ơi! Vui lắm, thích lắm!  Tôi còn nhớ lúc nhỏ chừng 10, 12 tuổi, lần đầu tiên trong đời được ba cho đi nơm cá. Trước đó một tuần, ba làm một cái nơm cỡ trung bình treo lên giàn khói, nơm rất đẹp vì ba rất khéo tay . Khi bàu trước làng đã gặt xong cũng chừng một tuần, chiều: Người ta đi nơm, con đi nơm với họ đi. Tôi rất vui mừng được ba cho đi nơm cá với mọi ngươi. Hồi hộp vác nơm xuống bàu khi mọi người đã nơm được một lúc. Đầu tiên, tôi chỉ nơm ở chỗ cạn và chỗ trống, nơi người ta đã nơm qua rồi. Chừng 20 phút sau, tôi cũng hòa nhập, tìm chỗ sâu hơn, chỗ có cỏ và gốc rạ rậm rạp úp úp nơm nơm. Úp đến lát thứ tư, tôi nghe đụng rất mạnh trong nơm, nhìn quanh không có ai gần sát ở đó, tôi hồi hộp đè thật chặt nơm xuống đất, lúc này nước gần lút đầu nơm, còn khoảng 10 phân. Tôi ngồi lên đầu nơm giữ kỹ. Trong nơm cá vẫn còn đụng đụng, tôi hồi hộp, mặt tái mét. Mọi người biết được quay qua nhìn tôi cười. Bởi vì lần đầu đi nơm cá, không biết cá “đống” nơm ra sao. Rạo rực thò tay vào mò thử. Trời ơi! Một con cá gì to quá. Tôi la lên được cá to rồi! Mọi người xúm quanh tôi. Tôi thò tay vào mò một lần nữa và nghĩ chắc tôi không bắt được, sợ cá to quá, tay tôi không nắm hết, con cá vùng sẽ sẩy, nên nhờ một người lớn gần đó bắt giúp. Khi anh ta mò tay vào cũng la hoảng lên: Con cá gáy (Cá chép) to quá, to quá bà con. Rồi anh ta đưa cả hai tay vào mò, con cá vùng vẫy rất mạnh. Nắm chặt con cá bằng cả hai tay, anh ta lôi cả nơm và cá đưa lên trời cho mọi người cùng xem. Ai cũng trầm trồ: Thằng này nhỏ mà may quá. Anh ta đưa con cá lên bờ cho tôi. Tôi quá mừng và sung sướng. Tôi tháo dây trên đầu nơm ra, xỏ mang, cột lại xách chạy về, không nơm nữa. Con cá trên 2,5 kg, tôi vừa xách vừa chạy về nhà  một mạch.
            Chạy vào nhà lấy cái rổ lớn ra bỏ con cá đang vùng vào rổ, ba mẹ tôi và mấy người nhà lại xem, ai nầy đều cho tôi may. Mấy lần sau, tôi hồi hộp chờ mọi người rũ nhau là tôi có mặt liền, lần nào cũng nơm được cá nhưng cá nhỏ hơn, chưa có con nào to như con lần đầu tiên đi nơm cả. Cho đến bây giờ, khi nhắc đến chuyện nơm bắt cá, tôi không thể nào quên được kỷ niệm ngày hôm đó. Từ đó, tôi quen dần với công việc nơm và nhủi cá thiên nhiên. Ban đêm, tay trái xách cái đèn dầu lửa, tay phải cầm nơm, lưng mang giỏ đi ra đồng soi cá. Đi ra những đám ruộng nước trong, sâu lút nửa ống chân, cá đóng đèn nằm im, mình chỉ úp và mò bắt thôi.
            Những ngày nắng tháng tư, khi bàu, hói đầm đã bị nơm tan hoang không còn cỏ hay gốc rạ là lúc dùng nhủi – dụng cụ bắt cá nhỏ - để đi nhủi cá mủ (loại cá bống mủ nhỏ bằng mút đũa, que tăm), tép đem về nấu canh. Chỉ cần thời gian nửa tiếng đồng hồ là có chừng ba lạng đến nửa ký đem về nấu canh bầu, canh cải ngon lựng rồi. Dụng cụ đánh bắt này cũng làn bằng tre, bện với mây, dài khoảng 2 mét, phía trước có gắn cái lưỡi bằng gỗ rộng chừng một mét đỗ lại được chuốt láng, trơn  để dễ đẩy đi dưới nước. Nhủi chỉ nhủi ở nước cạn, chừng lút đầu gối là cùng, nước cạn hơn thì có thể cặp nhau năm sáu người xếp thành hàng, đặt phía trước nhủi xuống nước rồi đẩy chạy lên phía trước, chạy được chừng 25, 30 mét thì cất nhủi lên đưa dựng lên trời, tì vào đầu gối hơi nghiêng một chút, cá sẽ lần lượt rơi xuống phía dưới, ở đó đã có cột một cái giỏ (kêu bằng cái oi) có hom. Nhủi chạy như thế này có thể có cá lớn. Nước ngang đầu gối thi nhủi đi từ từ, một đoạn rồi cất lên ngang mặt nước, vơ rũ hết rác bên trong, còn lại cá mủ, tép  cất thẳng lên cho cá tép vào oi
            Công việc nhà nông thì không có việc gì mà tôi không làm đến vì tôi sinh ra, lờn lên từ nhà nông. Hai mươi lăm năm, tuổi thơ, học hành, tinh yêu đều phát xuất từ đó. Cho như một phần tư cuộc đời gắn bó với quê hương cho nên khi về già, tha hương kiếm sống, tôi hay nhớ về những gì ngày xưa mình từng trải qua ở đó.
            Chuyện những sinh hoạt hàng ngày ở nông thôn ngày trước thì còn nhiều, chưa nói hết được. Đừng nghĩ rầng ngày nay khoa học phát triển đã giúp cho cược sống con người được sung sướng hơn thì hãy quên đi quá khứ, chúng ta cũng không nên sống với quá khứ mà chỉ ghi lại những hình anh cũ để nhớ một thời ông cha kham khổ để  tồn tại mới có chúng ta hôm nay.
          Có thể bạn nào đã từng sinh ra, lớn lên ở nông thôn cũng có thể đồng cảm với người viết. Xin Cảm ơn
                                                                                             Hoàng Kim Liên













Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

HỌP MẶT CỰU THẦY CÔ VÀ CỰU HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC GIO LINH XUÂN ẤT MÙI 2015

          Đến hẹn lại rũ nhau về để cùng nhau gặp gỡ thăm hỏi nhau sau một năm xa cách. Năm nay, ngày họp mặt hơi muộn bởi theo quy định của BLL từ trước đến nay là họp mặt mỗi năm một lần vào đầu xuân từ 10 đến rằm tháng Giêng nhưng cũng vì lệ thuộc một chút phải gần với ngày của Nguyễn Hoàng Sài Gòn để quý thầy ở xa có dịp gặp được cả hai nơi mà không tốn nhiều thời gian.
           Tôi đã cùng Ban Liên lạc về chiều ngày trước để bàn bạc sắp xếp cho chuyện ngày mai họp măt được chu đáo hơn khi thầy cô và các bạn gặp nhau khỏi lúng túng.
            Sáng 16 (06. 3) rất bận rộn vì trả lời điện thoại cho anh em hởi đường. Lần đầu tổ chức tại Bình Châu, trong thư mời lại không vẽ bản đồ chỉ đường nên anh em và quý thầy phải mất nhiều thời gian hỏi đường. Phải đến hơn 10 giờ mới vào lể lược. Đặc biệt năm nay, sau phần chúc xuân của trưởng ban, BLL có tổ chức mừng thọ đến Thầy cựu Hiệu trưởng Võ Viết Di, thầy Nguyễn Bảo và thầy Dương Đình Trọng cũng như các anh Phan Văn Huy, Nguyễn  Hữu Kiểm, Trần ĐÌnh Hồng và Thái Ngạn, các anh này đã trên tuổi 75. Rất tiếc là thầy Trọng, anh Hồng, anh Kiểm không về dự, riêng anh Huy thì rất muốn nhưng vì bệnh nên không dự được.
Anh em về dự năm nay còn thiếu rất nhiều kể cả thầy cô, mấy năm trước có 6 thầy cô mà năm nay chỉ có hai thầy. Lúc nào thầy Cựu Hiệu trưởng cũng tâm tình với học trò rất ấm áp tình nghĩa thầy trò.
           Trong phần tổ chức có chặt chẻ hơn nhưng vẫn còn rất nhiều thiếu sót phải rút kinh nghiệm cho những lần sau. Số anh chị em tham dự hôm nay tinh thần rất cao và hào hứng. Đặc biệt năm nay ấn phẩm GIO LINH - Quê Hương & Kỷ Niệm rất được các bạn đồng môn và quý thầy quan tâm khen ngợi sự cố gắng của BBT đã vượt mọi khó khăn từ nội tại cũng như khách quan, nhất là tài chánh để chi phí trong in ấn, biên tập liên hệ... BBT đã vừa biên soạn vừa đi xin khắp nơi, với sự nhiệt tình và lòng thương của anh em bạn bè khắp nơi nên mới có được trên 24 triệu đồng. Rất mừng và cũng rất cảm ơn bạn bè hổ trợ để món quà tinh thần này vẫn còn cơ hội đến tay các bạn trong những dịp xuân về
             Năm nay tinh thần tham dự họp mặt tương đối cao dù ít người hơn. Niềm vui mong đợi mỗi năm một lần gặp nhau để chia sẻ, hàn huyên tâm sư, mừng cho nhau mọi việc làm được, mừng hãy còn sống sót để gặp nhau, thấy nhau nhưng cũng thoáng buồn vì một lý do nào đó mà ít thấy cô và bạn bè tham dự cũng như ngậm ngùi vì một số bạn bè vĩnh viễn ra đi không bao giờ gặp lai như: Phan Minh, Trương Khắc Rê, Trần Nhỏ (Trần Thanh Hùng), Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Xuân Liệu.
             Năm sau nhóm họp chỗ nào sẽ thông bào sau. Sau phần lễ lược hành chánh là liên hoan, văn nghệ cùng hát cho nhau nghe. Mặc dù tuổi cao, các bạn vẫn ham mê văn nghê hát hò rất vui vẻ.
             Xin cảm ơn quý thầy cô, cảm ơn chính quyền địa phương, cảm ơn các bạn đã về dự, cảm ơn bạn Nguyễn Đức An có công đăng ký,đã dưa con cháu phục vụ buổi họp mặt này.
 Sau đây là vài hình ảnh buổi họp mặt


Thầy Di tâm tình với CHS.TH.Gio Linh
Thầy Bảo (trái), thầy Di (phải)

Quang cảnh buổi họp mặt


Trần Xuân Anh ( bên trai) với thầy Di, thầy Bảo

Lớp 1960 - 1964 hàng sau từ trái qua: Liên, Tỷ, Thừa.
hàng trước từ trái qua: Đức, Bổn, Đổng



Trái qua: Liên, bà xã Liên, Ngọc Mai


Thầy Di, Thầy Bảo và Liên

H.K.Liên trình bày ca khúc TUỔI HỌC TRÒ

Bốn số GIO LINH - Quê Hương & Kỷ Niệm xuân 2011, 2012, 2013, 2015




Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015

KHÔNG ĐƯỢC VÀO CỬA GIỮA - DẠY ÚNG XỬ - CÚNG CƠM MỚI (chuyện ngắn dưới 100 chữ)

KHÔNG ĐƯỢC VÀO CỬA GIỮA
          Đẹp trai, cha mẹ rủng rỉnh túi, nhà sang, xe xịnh... Còn cô, nghèo xơ, mắc tội quá đẹp. Chàng mê như điếu đổ, ngặt mẹ trọng môn đăng. Khó!. Ăn cơm trước kẻng thôi. Đành chấp nhận. Con một mà.
          Đám cưới rình rang. Dâu về, thay vì mẹ "cầm ống vôi ra sân", bà chận ngay cửa chinh, bắt dâu vào cửa sau. Uất ức... Ba ngày về "lại mặt", ở luôn nhà mẹ đẻ với số nữ trang, thề không về lại.
          Cha mẹ mất dâu, vàng, cháu nội; con giận bỏ đi chỉ vì: mê tín...
                                                                               Hoàng Kim Liên 



CÚNG CƠM MỚI
        
         Hàng năm ba đều cúng cơm mới. Tháng ba, đầu mùa thu hoạch, chọn ra một ít lúa mới, xay giả làm cơm cúng tạ ơn. Nhà nào cũng thế: vài tô canh bầu nấu cá bống mủ, diếc, chép kho, của làm được với con vịt cỏ nhà nuôi,
          Tạ ơn Thần nông, tổ tiên, trời đất cho được mùa.
         Mùi cơm gạo gie vàng thơm phức, mùi canh bầu, cá mủ kho tiêu xanh xông lên không làm sao cưỡng nổi…
        Mỗi lần về quê đúng vụ, không ai cúng nữa.
        Hồi tưởng lại thấy nhớ và thèm….
                                                             Hoàng Kim Liên




DẠY ỨNG XỬ

Cha đưa đứa con gái tám tuổi đi bệnh viện. Ngồi chờ, một người ngồi đưa chân ra, người khác đi vấp té, văng thuốc tứ tung, nhiều người nhặt thuốc giúp.
Người đưa chân thì nhìn không xin lỗi. Người được nhặt thuốc đứng dậy lấy thước đi, chẳng cảm ơn.
Đứa trẻ hỏi cha:
-   Ba ! Ba dạy khi có lỗi phải xin lỗi; khi mang ơn phải cảm ơn. Đừng tiếc từ “ xin lỗi” và từ “cảm ơn”. Vậy những người đó không được ba họ dạy như ba day con hả ba?
-  …  Ừ có lẽ vậy!
-    …
                                                Hoàng Kim Liên

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2015

CHỢ CẦU




CHỢ CẦU

            Chợ búa là nơi tập trung trao đổi hàng hóa, giao dịch, ở mỗi địa phương,tùy theo mức độ dân cư đông hay ít và lượng hàng hóa sản xuất tiêu thụ, nhu cầu mỗi huyện có thể có nhiều chợ hay một chợ - chợ đầu mối.
            Ngày nay, có nhiều huyện, xã, dân số đông, nhu cầu lớn, kinh tế phát triễn, quy mô chợ trở thành Trung tâm Thương mại, ở thành phố thì có siêu thị, mới đáp ứng nhu cầu của người dân.
            Ở những quận, huyện kinh tế người dân khá giả thì mỗi xã có một chợ – cũng có thể có hai chợ - những xã nghèo, vùng sâu, vùng xa thì xã chưa chắc đã có chợ, nhiều nơi đi năm bảy hay chục cây số mới có một chợ lèo tèo.
Quê hương nghèo huyện Gio Linh của tôi có một số ít xã có chợ mà chợ nầy chỉ đông được vài ba giờ hay nhiều lắm là một buổi. Chợ xã chỉ có chợ Nam Đông (xã Gio Sơn), chợ Gio An, Chợ Kênh (xã Trung Sơn), chợ Hôm (xã Gio Việt), các xã khác, nếu có chẳng qua là thời vụ. Một chợ quan trọng về cả nhiều mặt mà tôi sắp nói đến đó là chợ Cầu. Chợ Cầu là trung tâm trao đổi hàng hóa lớn nhất của huyện Gio Linh. Chợ được thành lập cách nay đã khá lâu, có đến gần 450 năm (theo lịch sử của làng Hà Thượng), phát xuất từ làng Hà Thượng. Ý nghĩa của chợ là Cầu: Cầu mong. Cầu mong sự bình yên, cầu mong được mùa, cầu mong mưa thuận gió hòa…. Ngày xưa, chợ được hình thành, xuất phát và tọa lạc trước cửa đình làng Hà Thượng, bên mé sông, sát bến U, dưới tán mấy cây đa, cây đề. Chợ nhiều lần dời đi chỗ nầy, chỗ khác nhưng vẫn ở trong đất làng Hà Thượng và không đổi tên. Năm 1957, chợ dời về bãi Hao Hao sát ranh làng Lại An, trong trung tâm hành chánh của quận, năm 1975, chợ được quay về chỗ cũ. Và vì ở đây chật hẹp không đủ điều kiện phát triển nên cũng có lần chuyển lên ngã tư (dọc đường Quán Phượng về cầu  Bến Sanh, giữa làng), rồi cách đây chừng 20 năm, lại chuyển lên sát quộc lộ 1, cách Quán Phượng 100 mét về hướng Bắc, phía phải đường. Chợ được xây dựng lại đàng hoàng tuy không khang trang hoành tráng nhưng có phần quy mô và tiện lợi hơn. Mặt chợ được quay ra phía đường quốc lô 1, ngay thị trấn và cũng là trung tâm của huyện Gio Linh.
Điều dáng nói ở đây là: Tại sao người ta vẫn để tên chơ mà không để Trung tâm Thương mại hay tại sao vẫn để chợ Cầu mà không để chợ Gio Linh, ai cũng biết rằng đây là chợ huyện, vậy thì để là Trung tâm Thương mại Gio Linh hoặc chợ Gio Linh là hợp lý, hợp lẽ theo sự phát triển của hiện tại và tương lai.
Thế nhưng người ta vẫn có ý không dùng ngôn từ đẹp đẽ ấy mà vẫn để tên Chợ Cầu. Bởi lẽ qua hàng mấy thế kỷ, cái tên chợ Cầu nó gần gũi với con người Gio Linh; nó ăn sâu vào huyết quản của người Gio Linh chất phác, hiền hòa mấy trăm năm nay, một bộ mặt, một nét văn hóa của Gio Linh. Thử hỏi bây giờ để lấy một hình ảnh biểu trưng cho Gio Linh thì ta lấy hình ảnh nào? Đồi Cồn Tiên ư? Hay đồi Dốc Miếu, cầu Bến Sanh, chùa huyện hội… ? Không có hình ảnh nào khả dỉ cả, trong lúc đó chợ Cầu đã xây dựng lại, có mặt tiền quang đảng, cao ráo, sáng sủa, nhưng đáng tiếc…Mỗi thành phố, một tỉnh, một địa phương nào đó người ta đều có một hình ảnh biểu trưng để khi nhìn vào hình ảnh đó  ta có thể biết đó là đâu hay nới đến địa danh đó người ta liên tưởng đến hình ảnh thân quen như nói đến Sài Gòn ta nhớ nghĩ nay đến hình ảnh chợ Bến Thành, nói đến Huế thì hình ảnh quen thuộc vẫn là cầu Trường Tiền, chùa Thiên Mụ;Hà Nội thì chùa Một Cột hay chợ Đồng Xuân. Đó  là những thành phố, các tỉnh hay các quận huyện cũng vậy, ở đâu cũng có những hình ảnh biểu trưng cho địa phương đó mà nó bao gồm cả văn hóa, lịch sử, xã hội…Chợ Cầu của Gio Linh là hình ảnh đáng được biểu trưng cho địa danh Gio Linh. Tai sao phải đáng tiếc vì có lẽ chẳng ai quan tâm đến vẽ mỹ quan của hình ảnh chợ. Đã 20 năm rồi hai cái bảng quảng cáo cho sản phẩm omo đã chiếm hết mặt tiền sáng sủa, hình ảnh đẹp của chợ. Nếu như những bảng quảng cáo đó để quảng cáo cho khu nghĩ mát Cửa Việt, Cửa Tùng của huyện nhà cho cam, đàng nầy vì lợi nhuận nhỏ nhoi của Ban Quản lý chợ mà đã che lấp đi hình ảnh đáng
trân trọng của chợ Cầu. Chữ CHỢ CẦU lâu ngày không được nâng cấp, sửa sang thành cũ kỹ rồi lại bị lấn ép. Chúng tôi lại thấy đau lòng cho hình ảnh biểu trưng cho Gio Linh. Sao các ngành chức năng liên quan không thèm để tâm đến điều này nhỉ? Thật quá thờ ơ hay…
Người dân Gio Linh bây giờ đi làm ăn tứ xứ, xa quê nhưng họ luôn hướng lòng về cố quận, khi về thăm hay khi thấy hình ảnh quê mình trên tạp chí, trên truyền hình hay trên mạng internet, lòng luôn khắc khoải nhưng nếu thấy hình ảnh như thế nầy thì buồn biết mấy!!

                                                                                                                               Hoàng Kim Liên