CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2015

NHỚ NGƯỜI BẠN ĐỒNG MÔN GIO LINH




Tất bật ngược xuôi bôn ba đây đó
Mấy chục năm rồi chỉ được một lần
Gặp ngượi bạn cùng lớp cũng rất thân
Của bốn năm Trung học Gio Linh cũ.

Tuổi thanh xuân với mộng lòng ấp ủ
Thời loạn ly ai hẹn ước trong đời
Chia tay nhau nào nói được một lời
Rồi mạnh ai cứ đi tim lẻ sống.

Nhớ dáng xưa, sao bây giờ chẳng giống
Trần Nhỏ ngày nào khác với hôm nay
Trần Thanh Hùng, đỏi tên mới nào hay
Khi họp mặt hỏi bạn bè từng đứa.

Hai lẽ chín rồi mong nhiều lần nữa
Bạn hẹn ta qua Tết sẽ vào thăm
Lời hẹn hò ta  ghi mãi vào tâm
Bao mong mỏi rồi có lần tâm sự.

Chất chồng mấy mươi năm luôn giữ
Kể cho nhau nghe chuyện vui buồn
Chuyện đời, bè bạn đứa mất đứa còn
Và tất cả những gì ta biết được.

Mà chưa nói ra trong lần gặp trước
Với thầy cô với trường lớp thân yêu
Rồi đến ngày kia vào một buổi chiều
Bạn cho biết đang lâm trọng bệnh.

Ta khắc khoải nghe ngang tai sét đánh
Chuyện đớn đau. Ôi! Biết nói làm sao?
Chỉ gọi điện thoại thăm hỏi ra – vào
Chia sẻ, động viên và mong chóng khỏi.

Thời gian gần bốn năm chống chõi
Và rồi một ngày tin dữ đến tai
Ta trách ta bởi thời gian khá dài
Mà không một lần ta đến viếng.

Vì hy vọng rằng bệnh tình sẽ chuyển
Nào ngờ đâu bạn đã sớm lìa đời
Mà ta thì như lạc lỏng chơi vơi
Thế là hết chẳng bao giờ gặp lại.

Trong hai ta còn thương tâm mãi mãi
Mà cứ ray rứt ân hận một thời
Hãy tin đi dù bạn cỡi hạc trùng khơi
Đâu chăng nữa lòng ta luôn có bạn.

Thôi bạn cứ đi nào ai ngăn cản
Đốt nén hương lòng cầu sớm phiêu diêu
Ở thế gian dù còn lại bao điều
Thanh thản đi đừng mang theo gì hết
                                       Hoàng Kim Liên.



NHÀ NÔNG VÀ NHỮNG CÁI GẦN GŨI VỚI HỌ



         Từ cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, giúp ích cho con người rất nhiều phạm vi trong cuộc sống. Có điều những tưởng không thể khắc phục được, nhưng khoa học công nghệ đã can dự vào thì có thể đem lại kết quả như mong muốn, từ những việc nhỏ nhặt nhất đến những việc to lớn, các nhà khoa học đều làm được cả.
        Tạm nói đến tất cả những công việc hàng ngày cuả tất cả mọi người, mọi nghề nghiệp, từ một em học sinh, đến một bác nông phu tay lấm chân bùn, ai nấy đều được hưởng những thành quả của khoa học để đem thành quả đó áp dụng trong đời sống và có thể nói nó gắn liền với nếp sống. Tuy nhiên có đôi khi nó làm đảo lộn phần nào. Cho đến nay, mặc dù khoa học công nghệ can dự vào hơn 90 %, nhưng có những cái vẫn còn duy trì từ xưa đến nay khó tách rời được
        Khoa học công nghệ áp dụng vào cuộc sống làm cho chúng ta bớt rất nhiều sức lao động, nhanh chóng, hiệu quả, đem lại lợi ích về tiền bạc nhưng đôi lúc có những cái, những việc vì quá lợi dụng vào khoa học làm cho con người mất đi sự sáng tạo để rồi khi cần thiết không có dụng cụ thì bối rối không thể xoay xở được. Một em học sinh luôn luôn và được phép xử  dung náy tính kể cả lúc vào phòng thi, đơn giản chỉ cần khai căn một số nào đó hay  tính số đo một cung lượng giác mà không có máy tính thì rất khó có kết quả. Những vật dụng dùng trong nhà hàng ngày hiện nay làm bằng nhựa, nhôm, sắt rất tinh tế, rất đẹp. Ngày xưa người ta làm toàn bằng tre, sử dụng đôi tay khéo léo, nếu có kỷ thuật, mỹ thuật thì cũng đẹp, chắc và đặc biệt ai cũng làm được, bảo quản trong tất cả mọi thời tiết, môi trường, hư thì làm lại cái khác ngay. Vấn đề sinh tồn, đối phó với sự thiếu thốn của người xưa chắc chắn cao hơn bây giờ.
 SỰ ĐẮC DỤNG CỦA CÂY TRE.



        Tre có nhiều loại: Tre la ngà, dài (trung bình 15 mét), to, có nhiều gai nhọn dưới gốc, cành dài; tre lồ ô, to, rất  thẳng, dao lóng (cao trung bình 10 mét), mỏng, không có gai; tre cà lay (tre cán giáo), cao chừng 8 mét, không có gai, ruột đặc; hóp là loại tre nhỏ đường kính chừng 4.5 cm, gốc đặc, lên cao hơi mỏng, dẻo không có gai; tre tong, trúc…, còn rất nhiều loại nữa. Tùy theo từng loại mà có những đặc trưng riêng. Cho đến bây giờ khoa học phát triển, cây tre vẫn còn đắc dụng đối với bất kỳ một gia đình nào, nhất là những gia đình ở nông thôn Việt Nam. Thiếu nó cũng có thể gây ra những trở ngại nhất định trong công việc hàng ngày của nhà nông. 
        Bất cứ một gia đình nào ở Việt Nam, hàng ngày đều phải sử dụng đến tăm và đũa trong mỗi bữa ăn. Tăm và đũa người ta có thể làm bằng gỗ, bằng nhựa nhưng chắc chắn rằng không bao giờ tiện lợi và đẹp bằng tre. Đó là những thứ nhỏ nhặt. Ngày xưa ở nông thôn Việt Nam, tre là loại cây đắc dụng và không thể thiếu đối với người dân, từ việc làm cột nhà tạm (tre la ngà), kèo, đòn tay, rui, mè, hom tranh, lạt buộc, vách phên, chỉ trừ tranh lợp còn toàn bộ đều làm bằng tre. Nếu chọn tre cẩn thận, tre già, ngâm nước khoảng trên 3 tháng, tùy theo loại tre để sử dụng vào mỗi việc, làm có kỹ thuật, giữ gin cẩn thận thì ngôi nhà có thể ở được 10 đến 15 năm là thường. Tre còn sử dụng  trong công việc nông nghiệp như lạt bó mạ, lạt bó lúa, dây cày, dây gàu tát nước, làm cột xây rơm, làm dàn trồng bầu bí, làm hàng rào nhà cửa, làm cán cuốc, cán chày, cán rựa, cán dao…, ngoài ra những dụng cụ hỗ trợ khác như đan thúng, mũng, nống, nia, sàng, dần, rổ rá, cối xay, nơm, nò, sáo, lờ… ; gốc, rễ, nhánh ngọn thì phơi khô chụm bếp; thân non (măng) dùng chế biến thục phâm… và làm được rất nhiều công cụ khác nữa không thể kể hết. Nói chung cây tre không thể thiếu và rất gắn bó với người dân nông thôn nghèo của Việt Nam ta ngày xưa mà bây giờ nó vẫn còn hữu dụng không thể thiếu…       
        Do vậy mà người dân họ trồng tre quanh vườn nhà, nhà nào cũng có, để khỏi đi xin hay đi mua của người khác mà lại  làm được hàng rào chung quanh vườn nhà khi trồng phủ hết (bằng hóp hay tre cán giáo) chu vi vườn, độ năm năm sau, bốn phía vườn có một hàng rào kiên cố rồì.
        Trong văn chương thi ca, hội họa người ta có sử dụng hình ảnh cây tre để diễn tả một điều nào đó như người ta ví Mai, Lan, Cúc, Trúc cho bốn mùa, hay:
                    “Gió đưa cành trúc là đà
            Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương”
      Hay:      “Trúc xinh trúc mọc một mình
             Em xinh đứng tựa cột đình cũng xinh”.
        Diễn tả hình ảnh quê hương hay nông thôn như cây đa, bến nước, sân chùa, con đường cái quan mà không có hình ảnh lũy tre, bụi chuối thì đó là những thiếu sót chưa đủ nói lên hình ảnh đẹp của quê hương được. Thật vậy.


RẠ LENG  
        Từ “rạ leng” hay “rạ cùn” bây giờ ít người biết đến, chỉ có mấy người thôn quê quen dùng tiếng địa phương, khi nói đến là biết ngay thứ gì thôi. Là cây rựa bị gãy cán, dùng lâu ngày mài mòn còn nhỏ lại nhưng vẫn dùng tốt do thợ rèn chuyên nghiệp, có đạo đức không làm dối cho nên một cây rựa sử dụng đến khi mòn nhỏ lại bằng ngón tay cái vẫn còn sắc bén. Vừa gãy cán, vừa mòn người ta đặt cho cái biệt danh “Rạ Leng”.


        Cuốc cùn, rựa leng đối với nhà nông thì chẳng xa lạ gì, nhà nào cũng có. Hiện nay, đa số người dân ít dùng đến cuốc rựa – nhất là dân ở thành thị, không sản xuất, trồng trĩa, rõ ràng họ không dùng cuốc làm gì, còn rựa thì lại không cần đến bởi mọi cái cần thiết thì người ta đã sản xuất sẵn, chỉ cần bước ra khỏi nhà vài bước, có tiền thì thứ gì cũng có, khỏi phải hao công tổn sức để làm bằng thủ công, đã nhanh mà lại tiện nữa. Chỉ có nhà quê, ít tiền bạc phải  làm những thứ có thể làm được để tiết kiệm, họ mới tận dụng tre, tận dụng thời gian nghỉ ngơi tranh thủ làm ra những vật dụng cần thiết để dùng trong gia đình.
         Nghề đan đát - mây tre lá - ở thôn quê bị mai một dần bởi sản xuất mà không có đầu ra, ít vốn thì làm sao đứng vững. Nghề đan đát chỉ là nghề thủ công truyền thống, công nghiệp, máy móc không tham dự hết các khâu do đó sản xuất bằng thủ công tốn công nhiều mà thu nhập ít, cân đối sẽ bị lỗ cho nên nghề bị bỏ dần chưa nói đến đồ sản xuất bằng công nghiệp sử dụng nhựa, nhôm… tràn ngập khắp nơi.
        Rựa leng, cuốc cùn bây giờ cũng là những vật kỷ niệm  của nhà nông nó cũng có giá đối với vài người sưu tầm đồ cổ, tuy nhiên còn có vài nơi, vài chỗ, tất cả những sinh hoạt, tập tục của ngày xưa vẫn còn duy trì cho tới tận bây giờ trong đó những vật dụng của một thời theo sát họ, nay không phù hợp hay không dùng được nữa, họ vẫn cất giữ rất cẩn thận ở một vị trí nào đó trong nhà để làm kỷ niệm như cái cày, cái bừa, cái liềm, cái vằng, cái hái (dụng cụ cắt lúa), cái đòn xóc, đòn gánh và tất nhiên có rựa leng, cuốc cùn nữa.


       









Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

KIẾP NẠN



KIẾP NẠN

Vấp phải vận xui thân trụa trầy
Sáu lần tai nạn * sống là may
Đôi phen tù tội** đầy cơ cực
Mấy bận thay ngôi*** lắm xéo giày
Quen sống chai lì nào quản khó
Niềm tin sa sút lại càng gay
Rủi ro đâu biết mà lường trước
Phước đức gieo trồng họa sẽ bay.
Hoàng Kim Liên.
------------------------
* :    Tai nạn giao thông
**:   Tù cả 2 bên
***  Thay đổi chế độ












Bài họa 1

KHUYÊN BẠN

Việc vàn gắng sức chớ trầm trầy
Thành bại đôi khi có rủi may
Chinh chiến trốn chui đành chịu lép
Thanh bình vươn dậy chẳng lo giày
Than thân tránh bỏ- hờn vơi giảm
Trách phận quên đi- giận bớt gay
Kiếp nạn mấy ai nào biết được ?
Tu tâm dưỡng tính họa tai bay .
                                  Võ Làng Trâm
 Bài họa 2
TẠI MÌNH

(Họa KIẾP NẠN)
Tại bác “thần đân” để bị trầy.
Ít ngày vết bít. Thôi … cho may.
Chân tay sờ mó không nên vội.
Ngóc ngách tới lui chớ có giày.
Con cháu giúp giùm, sao chẳng cậy
Tàu xe lên xuống, việc chi gay.
Đành hanh tuổi lão dừng đi nhé!
Đừng tưởng như xưa còn cánh bay./.
                                             o Gàn

Bài họa 3

MƠ ƯỚC THỨ BẢY
      (họa thơ theo tùy bút)

xưa nay cũng thế - cũng trầm trầy
đâu bảo lỗ lời - bảo rủi may
món nợ trần ai coi chút chút
mối duyên ân ái cũng dày dày
phấn son chẳng vẽ hoa thêm mộng
năng lực thiếu rồi chuyện mới gay
tìm được cái gì cho bóng xế
chi bằng cao vút cánh diều bay
                                Lê Viên Ngọc

Bài họa 4

RỦI & MAY

Cõi tạm lề chi tróc với trầy
" Tái ông mất ngựa"  rủi mà may.
Nhân tâm quăng nhẹ như làn khói
Đạo lý buông xuôi dưới gót giày
Xã tắc trông sang càng thấy tủi.
Sơn hà ngó xuống ngẫm mà gay
Ai người thức tỉnh hồn non nước.
để giống Tiên Rồng cất cánh Bay
Huy Vụ
Tân Thành BRVT

Bài họa 5
ĐỜI

Không đâu lại bị xước trầy
Bảo toàn tánh mạng cũng may lắm rồi
Đời là sân khấu trò chơi
So tài đọ sức dạn dày gió sương
Có ai biết trước mà lường
Ra tay chống đỡ moi đường cũng gay 
Thôi thì xin nguyện từ nay
Tạo nhiều phước đức tai nàn xa bay.-
17.04.15
Tâm Thường

Bài họa 6  
                  CHÂN DUNG CUỘC SỐNG
             
 Đời ai chẳng có lúc bầm trầy
 Chớ ảo tưởng cầu trọn kiếp may
 Buông sạch não phiền - thanh thản dạ
 Khiến cho tâm trí khỏi vò giày
 Nhân tình đen bạc - đừng e ngại
 Thế sự thay màu - chớ nghĩ gay
 Vạn pháp vô thường - thôi níu giữ
 Cho đi tức nhận - lấy gì bay ?  
                                            Hồ Trọng Trí



Bài họa 7 (họa vui)
Rủi may

Tuột tay,  rơi gậy, miếng da trầy
Chửa trẹo, chưa què, rủi hóa may
Chúi thẳng vô rào rơi mắt kính
Khuỵu ngay xuống đất tuột chân giày
Dâu con cháu vắng kêu thêm bực
Em láng giềng qua đỡ mới gay
Tủm tỉm đi vào trông thấy …vợ
Tớ oan Thị Kính, bớ bà bay!
Đoàn Chinh Nam

Bài họa 8

SỐ SƯỚNG

Sáu bận cũng qua – chỉ xước trầy!
Ai nào tưởng rủi hóa ra may
Chuyện nhà nũng nịu nằm quên gối
Lối xóm loăng quăng đi lộn giày
Thuở trước ôm đồm xem chẳng khó
Bây giờ gói ghém sợ hơi gay
Vợ con nì nẹo khâu kinh tế
Cười trỏ…tầng không mây trắng bay!
                          Trương Văn Lũy



Bài hoạ 9

DUYÊN NGHIỆP

Đâu phải vận xui gặp traatjj trầy
Nghiệp duyên trả được thế là may
Bao lần tai nạn thân xơ xác
Mấy bận tội tù ý xéo giày
Vẫn sống bình thường nào ngại khó
Niềm tin vững chắc có gì gay
Lo gì may rủi thêm vương vấn
Thanh thản xả buông phiền muộn bay
Lê Sĩ Thu

Bài họa 10

 AN PHẬN LÃO  ( Họa bài KIẾP NẠN của Hoàng Kim Liên)

Thân tra lỡ bước té chân trầy
Xương cốt chẵng sao cũng thật may
Cuộc sống bao phen thường mặt dạn
Đời thường lắm lúc cũng môi dày
Đến nay tuổi hạc tâm bình dị
Nhớ lại thời trai tính gắt gay
Phúc ấm ơn trên an phận lão
Buồn vui phút chốc tựa tàn bay.
Trần Văn Hạng


Bài họa 11

RỦI RO BAY

Số xui té ngả bị da trầy
Không bị chuyện gì, thật cũng may
Chân yếu tuổi già đi đứng khó
Mình rêm gối mỏi nhức đau giày
Muốn về thăm bạn, mà e ngại
Lo nghĩ xa đường, càng thấy gay
Quyết chí từ nay luôn luyện tập
Thân tâm khỏe mạnh rủi ro bay…
Ngô Văn Giai
Description: https://ssl.gstatic.com/ui/v1/icons/mail/images/cleardot.gif
Bài họa 12

 SỚM BÌNH AN

Xông xáo bao phen gặp trật trầy
Ơn trời phúc tổ vẫn còn may
Tìm tòi cơm áo luôn bươn chải
Vượt suối núi rừng phải chọn giày
Công việc làm ăn nghĩ chẳng khó
Bạc tiền kiếm được thấy càng gay
Tu thân tích đức làm điều thiện
Phước lộc đến dần họa hạn bay
                             Hồ Hắc Hải

Bài họa 13

KIẾP NẠN

Đời lắm tai ương thân trật trầy
Đường Tăng kiếp nạn - Ấy là may
Sinh thời chinh chiến đầy oan trái
Sống kiếp chim lồng khó dạn giày
Khốn khổ luyên rèn càng  cứng rắn
Niềm tin vững chắc có gì gay !?
Đau thương vấp ngã thêm bền chí
Tháo củi sổ lòng, mặc sức bay
Lê Văn Thanh

Bài họa 14
KIẾP NẠN (1)

Té ngữa ai không bị trật trầy
Ơn trời còn sống được là may
Buồn vui thoáng hiện từ tâm hiếu
Sướng khổ đều mong tự nghiệp giày
Vượt núi băng rừng âu chuyện dễ
Thấy mình buông cánh mới là gay
Lòng trong sóng lặng cười dâu bể
Đuổi bóng mây trời rút cánh bay.
Hoàng Hưu Bản

Bài họa 15

KIẾP NẠN (2)

Một thoáng đời trôi thông gió bay
Từ trong sự rủi đã còn may
Vòng xoay cuộc thế vay rồi trả
Bể thẳm nhân tình dễ hóa gay
Mất được hơn thua trò ảo ảnh
Giàu nghèo sướng khổ mới trần trầy
Tu tâm dưởng tánh hòa nhân nghĩa
Mặc kệ ai kia dập đạp giày
Hoàng Hữu Bản

Bài họa 16

KIẾP NẠN (y đề)

Bay hết ách ương chưa hẵn bay
Gay duyên còn đó mới là gay
Đọa đày tù tội cực đày đọa
Giày xéo đổi ngôi khổ xéo giày
Rủi bị lao đao thì đã rủi
May thay khỏi tật vẫn còn may!
Nạn tai, ai khỏi vấp tai nạn?
Trầy trật bao nhiêu gọi trụa trầy>
Vô Danh tiểu tốt
Cẩm Mỹ - Đồng Nai

Bài họa 17

KIẾP NẠN (y đề)

Ngờ đâu tai nạn lắm thân trầy
Nhờ phước ông bà nên cũng may
Mầy bận xe tông đà nhức nhối
Vài lần ngôi đổi bị vò giày…
Lo toan cuộc sống quên gian khổ
Vượt nỗi giam cầm thế cũng gay
May rủi – rủi may ai đoán được
ở đời dày đức họa tai bay.
Huỳnh Khoa Liêu

Bài họa 18

THẤT NẠN
Ba lần vãy tróc – bốn vi trầy
Rủi biến tan rồi đợi vận may
Đất mẹ bảy hai* mìn pháo xới
Quê cha sáu tám** đạn bom giày
Lao đao mấy trận đời nguy khó
Lận đận bao phen kiếp khổ gay
Thống nhất xung thời tìm nẽo chạy
Hòa bình nghịch cảnh kiếm đường bay.
                                                     ĐỘC HÀNH


 (*1972)**(1968)
Bài họa 19

HẬU VẬN!

Bao phen khốn đốn tấm thân trầy
Còn phước nên thời vận cũng may
Khói lửa te tua vì giặc xé
Chiến tranh cùng cực bởi voi giày*
Cảm thương trầm tích còn đau khổ
Hờn tủi tâm thần cứ gắt gay
Chăm sóc ruộng đời gieo đức thiện
Thì mầm tai vạ sẽ cao bay.
Lê Đăng Mành
*Rước voi giày mả tổ